Tây Ban Nha: Madrid, thủ đô của nghệ thuật – bài 5

23 Tháng Tám, 2011 | Tây Ban Nha
Tác giả trước Palacio Real, cung điện hoàng gia tại Madrid. Hình TVTS

Nguyễn Hồng-Anh – bút ký du lịch

***

Mời các bạn cùng chúng tôi đến thăm cung điện hoàng gia có tên chính thức là Palacio Real de Madrid hay Royal Palace of Madrid  theo tiếng Anh. Khi lên ngôi năm 1975, vua Carlos và gia đình chọn sống ở cung điện nhỏ Palacio de la Zarzuela ở bên ngoài Madrid. Bên cạnh việc dùng làm nơi tiếp quốc khách, Palacio Real cũng là nơi từng tổ chức đám cưới cho Hoàng tử Felipe, Prince of Asturias, 43 tuổi, con thứ ba và cũng là con trai duy nhất của nhà vua.

Trong lịch sử Tây Ban Nha vua chúa nước này có liên hệ huyết thống với rất nhiều triều đại Âu Châu như  Pháp (vua  Philip V là cháu nội “Vua Mặt Trời” Louis XIV của Pháp), Áo, Ý và cả Anh.  Cái tên rửa tội của vị vua hiện nay nói lên điều đó: Juan Carlos Alfonso Victor Maria de Borbon y Borbon-Dos Sicilias.

 

Vua Tây Ban Nha: “Nguyễn đi rồi Nguyễn lại về”

Nước Tây Ban Nha đã không có vua trong mấy chục năm kể từ khi vị vua cuối cùng  Alfonso XIII  bỏ xứ năm 1931 và sống lưu vong ở Ý sau khi nền Đệ nhị Cộng hòa Tây Ban Nha được thiết lập.

Khác với Việt Nam, nhà Nguyễn  đi mà chẳng bao giờ về –dù đó là Nguyễn PhúcVĩnh Thụy (Bảo Đại), Nguyễn Văn Thiệu hay Nguyễn… Cao Kỳ, họ chết ở Pháp, Mỹ  hay Mã Lai–  chế độ quân chủ Tây Ban Nha nhiều lần bị truất phế, lưu vong, cuối cùng vẫn được tái lập.

Cháu nội của vua Alfonso XIII là hoàng tử Carlos đã được nhà độc tài quân phiệt Francisco Franco chọn nối ngôi vua Tây Ban Nha bằng cách phong cho làm hoàng tử năm 1969 với danh hiệu Prince of Spain (chứ không phải Prince of Asturias, danh hiệu của một hoàng tử sẽ nối ngôi, tức hoàng thái tử) bởi vì ông tướng vẫn còn nghi ngờ sự trung thành của ông hoàng tử khi ông tướng còn cầm quyền. Chỉ khi Franco chết được hai ngày, Carlos mới lên làm vua qua sự trối trăn trước đó của ông tướng.

Tuy nhiên, với sự ra đời của hiến pháp  và cuộc trưng cầu dân ý năm 1978, người dân Tây Ban Nha đã chọn thể chế quân chủ lập hiến và vua Carlos đã thành công trong việc chuyển đổi Tây Ban Nha từ một thể chế độc tài thành một nền dân chủ như ngày nay.

Vua Carlos cưới công chúa Sophia Margaret Victoria Frederica của Hy Lạp và Đan Mạch, cùng tuổi với ông. Công chúa Sophia là trưởng nữ của vua Paul nước Hy Lạp và là chị của vua Constantine II, bị truất phế năm 1973. Tuy là giòng dõi vua chúa và sinh ra là đạo Chính thống giáo Hy Lạp, nhưng khi lấy chồng bà đã theo đạo Công giáo để có thể trở thành hoàng hậu hợp lệ của nước Tây Ban Nha.

Mặc dầu thủ tướng lo việc cai trị đất nước nhưng với tư cách quốc trưởng, vua là vị tổng tư lệnh quân đội và là chủ tịch danh dự của tổ chức Các Quốc gia Châu mỹ La tinh và Bán đảo Iberia, một tổ chức quy tụ 24 quốc gia với 700 triệu dân. Vị vua 73 tuổi là người rất được dân Tây Ban Nha yêu mến và cũng được coi là lãnh tụ được ưa chuộng nhất trong khối các nước nói tiếng Tây Ban Nha.

Vua Carlos và Hoàng hậu Sofia nói thông thạo nhiều thứ tiếng như Tây Ban Nha, Anh và Pháp, Ý. Nhưng khác với hoàng hậu, vua không nói được tiếng Đức và tiếng Hy Lạp, ngôn ngữ mẹ đẻ của vợ, một điều mà ông hối hận.

Bức tranh in lại trên canvas của Goya, mua 15 Euro nhưng lên khung trông rất đẹp

Cung điện trở thành viện bảo tàng

Cung điện Palacio Real hiện nay nằm trên khu đất xưa là pháo đài của người Hồi giáo xây từ thế kỷ thứ 9, có tên là mayrit (ngày nay đọc trại thành Madrid). Khi vua Afonso VI của xứ Castile chiếm Madrid vào năm 1085, pháo đài này thỉnh thoảng được các vua xứ Castile sử dụng. Năm 1561, vua Philip II dời đô từ Toledo về Madrid và cho xây một lâu đài có tên là Alcazar trên pháo đài này nhưng bị hỏa hoạn đốt cháy toàn bộ vào đêm vọng giáng sinh năm 1734.  Vua Philip V cho xây lại cung điện mới, kéo dài từ năm 1738 đến năm 1755, khởi đầu bởi kiến trúc sư Filippo Juvarra và sau đó bởi nhiều kiến trúc sư khác.

Vua Charles III là người đầu tiên vào sống trong cung điện Palacio Real mới này vào năm 1764. Vị vua cuối cùng ở đây là vua Alfonso XIII, ông nội của vị vua hiện nay. Trong thời  Đệ nhị Cộng hòa Tổng thống Manuel Azana (1936- 1939) cũng sống ở đây, làm cho ông trở thành vị quốc trưởng cuối cùng sống trong cung điện mà bạn và chúng tôi sắp vào xem.

Palacio Real có diện tích mặt bằng đến 135,000 mét vuông với 2,800 căn phòng, là cung điện lớn nhất ở Âu Châu.

Vé vào xem cung điện hoàng gia là 8 Euro, là loại vé không có người hướng dẫn. Chúng tôi chọn loại vé này, nghĩ rằng đến chỗ nào mình thích thì có thể dừng lại xem hơn là phải chạy theo đoàn hay người hướng dẫn. Tuy nhiên, có trở ngại là khi tới một nơi nào đó, mình chẳng hiểu rõ đấy là cái chi chi hoặc phải mất thì giờ tìm hiểu… thì mới hiểu!

Du khách không được mang túi xách, phải gởi lại ở phòng cloak room, lệ phí 1 Euro.

Dù hoàng gia không còn cư ngụ nơi đây, du khách cũng chỉ được tham quan một phần của cung điện mà thôi, như trường hợp chúng tôi hôm đó chỉ được xem cánh trái của tòa nhà và một phần giữa tòa nhà, ấy thế mất ba tiếng đồng hồ để lướt qua.

Mời bạn cùng chúng tôi bước qua cái sân rộng như  một quảng trường để vào xem những thứ trưng bày trong cánh trái (nhìn từ phía nhà thờ chính tòa).  Ở đây có một bộ sưu tập đồ sộ về kho vũ khí của hoàng gia. Khác với các cung điện và bảo tàng viện ở Pháp hay ở La Mã, nơi đây người ta cấm chụp hình, dù đồ vật là khí cụ bằng sắt, đồng, không thể nào hư hỏng ngay cả chụp với flash.

Lần đầu tiên xem các bảo tàng viện chúng tôi thấy được một kho vũ khí của thời trung cổ lớn và nhiều về số lượng như thế: ngựa (sắt hay đồng), áo giáp, kiếm, chùy, cung tên, và súng trường dài cả hai thước;  những thứ khí cụ mà bạn thường thấy trong phim ảnh La Mã. Người Tây Ban Nha ngày xưa nổi tiếng là những chiến binh giỏi, có thể nhờ sự pha trộn nghệ thuật chiến tranh của Âu châu và người Hồi giáo từ Trung đông, những chiến binh ngồi trên lưng ngựa mở rộng đế quốc Hồi giáo qua tận bán đảo Iberia (vùng đất của Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha).

Tòa nhà ba tầng ở giữa là nơi để hoàng gia sinh sống, thiết triều và tiếp đón các nhà ngoại giao. Bạn sẽ được xem những phòng ăn và phòng tiếp khách rộng lớn với những cái bàn thật dài và những chiếc ghế được đóng công phu để bày tỏ sự uy nghi và lộng lẫy của bậc quân vương. Bạn cũng xem luôn phòng đọc sách và phòng ngủ của vua: đẹp, trình bày chi tiết và công phu nhưng hơi nhỏ, thua xa những phòng ngủ của những người giàu có, thậm chí trung lưu thời nay.

Đây không biết là lần thứ mấy tôi “thắc mắc” nói với nhà tôi không biết vua chúa làm vệ sinh ở đâu, bởi chẳng thấy cung điện nào có toilet gần các phòng ngủ và phòng ăn? Đã qua thế kỷ 19 hay 20 rồi mà chẳng lẽ vua, hoàng hậu, các hoàng tử và công chúa đại tiện và tiểu tiện trong cái bô? Thế thì cũng bất tiện lắm chứ?

Bức tranh sơn dầu “Chúa Rửa Chân Các Môn Đệ” của Tintoretto, lớn 210cm x 533cm. Hình Wikimedia

Mời các bạn đi xem những phòng triển lãm thảm, đồ dệt, đồ sứ, chén nĩa bằng bạc, bàn ghế và đồng hồ, những đồ dùng của các triều đại đã được bảo quản rất kỹ.

Cuối cùng, mời bạn xem các tác phẩm nghệ thuật như tranh vẽ trên tường hay trần nhà  của các nghệ sĩ như  Corrado Giaquinto, Giovanni Battista Tiepolo và Anton Raphael Mengs hay những bức tranh của các họa sĩ Caravaggio, Velazquez và Francisco de Goya.

Khi về, bạn nhớ mua một vài bức tranh của các danh họa vừa nói được in lại trên canvas (chứ không phải print). Đây là lần đầu tiên tôi biết đến loại in tranh trên vải. Một bức tranh in trên canvas của họa sĩ Goya khổ bằng tờ báo tabloid do bảo tàng viện Museo del Prado in,  giá chỉ 15  Euro (về Úc tôi nhờ tiệm đóng khung trông đẹp không ngờ,  bởi không cần dùng kính trong bọc lại như khi đóng khung tranh in).

Bên ngoài cung điện còn vài thắng cảnh bạn nên xem nếu có thì giờ,  như quảng trường Plaza Oriente ở bên phải,  công viên Campo del More bên trái và vườn hoa Jardines de Sabatini ở sau lưng cung điện. Ba nơi này chúng tôi chỉ thấy… trên các tờ quảng cáo, bởi còn dành thời giờ đi qua xem Museo del Prado.

 

Bảo tàng viện số một của Tây Ban Nha

Tôi đã nghe danh Prado nhưng khi đến Madrid, ngồi trên xe Madrid Vision -loại xe tour 2 tầng mà chúng tôi mua vé đi 2 ngày-  mỗi lần chạy qua gần vườn bách thảo nơi được gọi là tam giác vàng nghệ thuật (Golden Triangle of Art) gồm Museo del Prado, Museo Thyssen và Museo Nacional Reina Sofia, tôi không biết mình phải chọn xem nơi nào bởi chỉ có thể đi một nơi mà thôi, thì giờ còn lại dành cho những thú vui và tò mò khác.

Rồi khi xe chạy ngang qua bảo tàng viện Regina Sofia lại nghe máy audio nhắc tên danh họa Picasso (1881-1973) người Tây Ban Nha.

Khi mới lớn lên tôi đã biết Picasso không phải vì ông là một trong những họa sĩ tiên phong của trường phái lập thể (Cubism), là họa sĩ quá giàu có lúc còn sống mà vì nghe những cuộc tình của ông, của một người có nhiều đời vợ, nhiều tình nhân, già gần chết vẫn còn tình nhân trẻ.

Nhưng cuối cùng chúng tôi chọn Prado vì hôm ấy bảo tàng viện này có trưng bày mấy chục bức tranh của danh họa người Pháp Renoir.

Trong 10 bảo tàng viện được coi là hàng đầu của thế giới, Prado được xếp hàng thứ 9. Các bảo tàng viện được TripAdvisor sắp hạng TOP TEN theo thứ tự gồm: Louvre (Paris, Pháp), Vatican (Rome, Ý), Metropolitan (New York, Mỹ), J.Pause Getty (Los Angeles, Mỹ), Orsay (Paris, Pháp), Uffizin (Florence, Ý), Chicago  (Chicago, Mỹ) Tate Modern (London, Anh), Washington (Washington, Mỹ).

Mỗi năm có khoảng 2.7 triệu người đến viếng bảo tàng viện Prado tại thủ đô Madrid.

Prado, một trong 10 bảo tàng viện hàng đầu trên thế giới. Hình TVTS

* * *

Bạn đọc, đặc biệt những người ở Brisbane, cũng nên biết thêm rằng  từ ngày 21.7.2012 năm tới, Queensland Art Gallery nhân kỷ niệm 30 năm sinh nhật của một viện mỹ thuật được thành lập tại Brisbane, sẽ có một cuộc triển lãm tranh kéo dài trong 3 tháng, những bức tranh mượn từ bảo tàng viện Prado bên thành phố Madrid gồm những đại tác phẩm  của những nghệ nhân làm việc cho triều đình Tây Ban Nha và các triều đình khác, tạo nên thời hoàng kim của nền hội họa thế kỷ 16 và 17 như  El Greco, Titian và Rubens. Và dĩ nhiên không thể thiếu những danh họa của những người Tây Ban Nha lừng danh như Velaquez, Goya và Zurbaran.  Tranh bao gồm chân dung của các vua chúa, hoàng gia, tĩnh vật và các đề tài về tôn giáo (Thiên Chúa giáo).

* * *

Đến 4  giờ chiều, chúng tôi đón xe Madrid Vision từ  cung điện hoàng gia, đến trạm 11 nhảy xuống để ngắm cảnh, rồi từ từ đi bộ dọc bảo tàng viện Prado cho tới trạm 12 là nơi đối diện với mặt tiền của tòa nhà.

Vé vào cửa 8 Euro, phải gởi túi xách với lệ phí 1 Euro. Không được chụp hình bên trong bảo tàng viện. Nhìn bản đồ của nhà 2 tầng và có hầm, chúng tôi không biết phải bắt đầu xem từ đâu giữa đám đông ngược xuôi.

Người ta nói rằng, một bảo tàng viện như thế này phải bỏ ra một ngày để xem. Thấy giờ đóng cửa là 8 giờ tối, chúng tôi chỉ còn đâu khoảng 3 tiếng để đi ngắm. Chúng tôi tự nhủ phải dành thì giờ để xem tranh của Renoir, kỳ dư  gặp đâu xem đấy, mua thêm một cuốn sách để lật xem và đối chiếu tranh trên tường hầu khỏi lộn râu ông này với cằm bà kia.

Tòa nhà làm bảo tàng viện hiện nay được vua Charles III ra lệnh cho kiến trúc sư Juan de Villanueva xây vào năm 1785 dùng cho Nội các Lịch sử Tự nhiên của vua làm việc. Tới thời cháu của ông, vua Ferdinand VII được bà vợ khuyến khích nên dùng làm Bảo tàng viện Hoàng gia Tranh họa và Điêu khắc, sau đó trở thành bảo tàng viện quốc gia và cuối cùng  mang tên bảo tàng viện Museo del Prado, được chính thức mở cửa cho công chúng từ năm 1819.

Từng là nơi sưu tập tranh của hoàng gia, bảo tàng viện Prado ngày nay chứa khoảng 7600 bức tranh sơn dầu, 8200 tranh vẽ bút chì, 4800 bức tranh in lại, 1000 tượng điêu khắc, là nơi được xem có bộ sưu tập nghệ thuật Âu châu quý hiếm bậc nhất thế giới,  trải dài từ thế kỷ 12 đến đầu thế kỷ 19.

Diego Velaquez (1599-1660)  nghệ sĩ hàng đầu của triều vua Philip IV, là một họa sĩ vẽ chân dung quan trọng của thời Baroque. Bức tranh  Las Meninas (Các Cung nữ) được coi là kiệt tác của ông. Velaquez để lại ảnh hưởng trên các họa sĩ về sau, bao gồm cả những họa sĩ đồng  hương như  Pablo Piscasso, Salvador Dali và những người sau này đã tái dựng những tác phẩm nổi tiếng của ông để vinh danh ông.

Francisco Goya (1746-1828) cũng là một họa sĩ của triều đình Tây Ban Nha, nhưng được xem là người cuối cùng của thời các Danh họa Cổ và là người đầu tiên của những người hiện đại. Hai bức tranh nổi tiếng nhất của ông là La Maja Desnuda (The Nude Maja) và La Maja Vestida (The Clothed Maja). Bức tranh vẽ cùng một người đàn bà trong một tư thế nằm nhưng khỏa thân và có mặc y phục. Đây là bức tranh khổ lớn đầu tiên của nền hội họa Tây phương vẽ hình đàn bà mà cho thấy rõ vùng tố mao.

Ngoài những tranh của các danh họa người Tây Ban Nha, ở đây còn có nhiều tranh của các họa sĩ Ý, Đức. Nhưng nhiều nhất vẫn là của người Ý như Titian, một họa sĩ rất được các vua Tây Ban Nha Charles V và Philip II yêu thích. Vì vậy có thể nói ngoài thành phố Venice (Ý), không có nơi nào trên thế giới có nhiều tranh của Titian như ở bảo tàng viện Prado.

Chúng tôi cũng thấy có nhiều tranh của các danh họa người Ý như Paolo Veronese và Tintoretto.

Độc đáo và gây ấn tượng nhất đối với tôi là bức tranh Christ Washing the Apostles’ Feet (Chúa rửa chân các tông đồ) của Tintoretto. Bức tranh được vẽ giữa thế kỷ 16 và được vua Tây Ban Nha mua lại từ vua Anh, sơn dầu trên canvas, rất lớn (210cm x 533cm) với hình ảnh sống động làm cho người xem có cảm tưởng như xem hình 3 chiều trên màn ảnh.

Nhân dịp này chúng tôi cũng đã được xem khoảng 40 bức tranh của Renoir (1841-1919), họa sĩ trường phái ấn tượng Pháp, người đã vẽ khoảng 600 bức tranh trong 60 năm hoạt động vẽ tranh của ông.

Giờ đóng cửa sắp đến với tiếng chuông nhắc nhở, chúng tôi gấp rút tới phòng bán đồ lưu niệm, mua một bức tranh vẽ một phụ nữ khỏa thân của Renoir in lại trên vải canvas, giá 85 Euro để làm kỷ niệm  cho một lần đặt chân tới bảo tàng viện hàng đầu của thế giới. (còn tiếp)