50 năm cung đàn Nguyễn Hồng-Anh (Kỳ 9) Thân Phận Ca – tiếng hát của một thế hệ lưu đày Hai buổi mạn đàm với NS Nguyễn Hồng-Anh trên TVTS Online

Nguyễn Hồng-Anh trước biển quảng cáo Đêm Thân Phận Ca do một họa sĩ vẽ ông đang cầm đàn treo trước cửa vào Trung tâm Sinh hoạt Thanh Thiếu niên

Đầu năm 2017, trong chương trình “Mạn đàm với nghệ sĩ Melbourne” của TV Tuần-san Online, Luật sư Nguyễn Tân Hải đã thực hiện hai buổi trò chuyện đặc biệt với nhạc sĩ Nguyễn Hồng-Anh về dòng nhạc “Thân Phận Ca” – những ca khúc viết cho thân phận người Việt sau biến cố 30 tháng Tư 1975 và cho hành trình vượt biển đi tìm tự do.

Đó không chỉ là những buổi giới thiệu âm nhạc đơn thuần. Qua tiếng đàn guitar mộc mạc, qua những ký ức của trại tị nạn Galang, qua những bài hát viết trong những năm cuối thập niên 1970 và đầu thập niên 1980, người xem được sống lại một giai đoạn đau thương của dân tộc Việt Nam: những năm tháng mất tự do, đói nghèo, cải tạo, kinh tế mới, vượt biên và lưu đày.

Trong hai buổi mạn đàm, ngoài Luật sư Nguyễn Tân Hải còn có sự tham dự của chị Vũ Hà – phu nhân của nhạc sĩ Nguyễn Hồng-Anh – và chị Bích Thi, phu nhân của Luật sư Nguyễn Tân Hải. Những câu hỏi, những cảm xúc và những hồi tưởng của họ đã góp phần làm cho chương trình trở nên gần gũi, chân thật và đầy xúc động.

Từ trại Galang đến tập nhạc “Thân Phận Ca”

Trong phần mở đầu của buổi mạn đàm đầu tiên, Luật sư Nguyễn Tân Hải nhắc lại thời gian ông và nhạc sĩ Nguyễn Hồng-Anh cùng sống ở trại tị nạn Galang, Indonesia, đầu thập niên 1980. Khi ấy, Nguyễn Hồng-Anh phụ trách Trung tâm Sinh hoạt Thanh thiếu niên và thường tổ chức những đêm văn nghệ cho cộng đồng người Việt tị nạn.

Chính tại Galang, tập nhạc “Thân Phận Ca” được in và phát hành năm 1981 với sự bảo trợ của báo Bán Nguyệt San Tự Do. Tập nhạc gồm 20 ca khúc, trong đó có 13 bài tiếng Việt và 7 bài tiếng Anh. Nhiều bài được sáng tác ngay tại Việt Nam sau năm 1975, một số khác được viết trong hành trình vượt biển hoặc ở trại tị nạn.

Theo lời kể của Luật sư Nguyễn Tân Hải, “Đêm Thân Phận Ca Nguyễn Hồng-Anh” tại Galang khi ấy đã thu hút đông đảo đồng bào tị nạn đến tham dự. Hội trường chật kín người, nhiều người phải đứng ngoài nhìn qua khe vách gỗ. Có cả sự hiện diện của linh mục Gildo Dominici –chủ nhiệm Nguyệt san Tự Do– cùng một số nhân viên Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp Quốc.

Đó là thứ âm nhạc của chính những người đang sống thân phận tị nạn viết cho nhau nghe. Không phải những bản tình ca lãng mạn hay những khúc nhạc giải trí, mà là tiếng nói trực tiếp của một thế hệ bị cuốn vào cơn biến động lịch sử.

Người viết ca khúc Nguyễn Hồng-Anh (hàng đầu, thứ hai) và MC Nguyễn Tân Hải (góc phải) tại trại tị nạn năm 1981

“Chuyện của tôi” – tiếng khóc của một thế hệ mất quê hương

Buổi mạn đàm mở đầu bằng nhạc phẩm “Chuyện của tôi”, sáng tác năm 1977. Trước khi Nguyễn Hồng-Anh trình bày ca khúc bằng guitar, chương trình phát lại một đoạn thu âm của ca sĩ Thanh Thúy trong băng “Siêu Âm 1”. Theo lời giới thiệu của Luật sư Nguyễn Tân Hải, vài tháng sau khi “Thân Phận Ca” phát hành ở Galang, nhạc sĩ Lê Văn Thiện đã mang tập nhạc sang Mỹ và trao cho Thanh Thúy. Bà đã chọn thu bốn ca khúc của Nguyễn Hồng-Anh.

Qua tiếng hát mộc mạc của tác giả, “Chuyện của tôi” hiện lên như một bản tự sự về những năm tháng sau 1975:
“Khi em về tôi kể chuyện em nghe/ Chuyện của tôi về quê làm rẫy/ Lúa ngô khoai bao là trông đợi/ Lúa ngô khoai cuối mùa trông đợi. Chỉ gặt chăng là nước mắt thôi…”

Bài hát nói về cuộc đời của những người miền Nam bị cuốn vào phong trào “kinh tế mới”. Tuy nhiên, Nguyễn Hồng-Anh cho biết ông không bị cưỡng bức đi kinh tế mới như nhiều người khác, mà tự nguyện rời Sài Gòn lên Long Khánh tìm một đời sống khác.

Ông kể rằng mình đã mượn hai cây vàng của chị để mua một mảnh đất trồng ngô khoai, đậu bắp. Nhưng sau nhiều tháng lao động, toàn bộ sản phẩm bị tịch thu. “Ruộng của tôi/ Lúa ngô khoai của người” là câu hát phản ánh chính trải nghiệm ấy.

Khi chị Vũ Hà hỏi về câu “Phố năm xưa bây giờ không còn/ Phố thân yêu nay là của người”, Nguyễn Hồng-Anh giải thích rằng chữ “người” ở đây không viết hoa, nhưng hàm ý nói về một chế độ mới, nơi người dân không còn cảm giác làm chủ thành phố của mình nữa.

Trong cuộc trò chuyện, ông cũng cho biết thời gian sống ở vùng rừng núi Long Khánh, ông từng mang hy vọng sẽ gặp được lực lượng kháng chiến chống cộng để tham gia. “Đôi khi cầm súng còn sướng hơn cầm cuốc”, ông nói nửa đùa nửa thật, phản ánh tâm trạng của một thanh niên trẻ tuổi đầy bức xúc và tuyệt vọng lúc bấy giờ.

“Sao ta còn ngồi đây” – lời thúc giục phải ra đi

Sau “Chuyện của tôi”, chương trình chuyển sang nhạc phẩm “Sao ta còn ngồi đây”, cũng được sáng tác năm 1977 và từng được ca sĩ Hải Lý thu âm năm 1981.

Đó là một ca khúc mang tinh thần thôi thúc vượt thoát:
“Đêm đêm thầm ước mơ/ Mơ chân trời xa xăm/ Nhìn những cánh thư về/ Lòng ta biết bao buồn…”

Bài hát phản ánh tâm trạng của rất nhiều người Việt miền Nam lúc bấy giờ: nghe tin bạn bè vượt biên thành công, nhận được thư từ nước ngoài gửi về, trong lòng vừa hy vọng vừa đau buồn vì mình vẫn còn kẹt lại.

“Nghe bên kia là giấc mộng”, câu hát ấy đã nói lên hình ảnh của thế giới tự do trong tâm tưởng của hàng triệu người Việt sau 1975.

Theo lời dẫn của Luật sư Nguyễn Tân Hải, hành trình vượt biên thời ấy thường bắt đầu bằng những chiếc ghe nhỏ len lỏi theo sông rạch miền Tây, sau đó mới chuyển sang tàu lớn ra biển. Chính trong bối cảnh đó, Nguyễn Hồng-Anh viết nên những ca khúc như nhật ký âm nhạc của người vượt biển.

Hội trường chật kín người, nhiều người phải đứng ngoài nhìn qua khe vách gỗ. Có cả sự hiện diện của linh mục Gildo Dominici –chủ nhiệm Nguyệt san Tự Do–(hàng đầu, góc trái) cùng một số nhân viên Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp Quốc

“Đêm Đại Dương” – viên kim cương của “Thân Phận Ca”

Nếu “Sao ta còn ngồi đây” là khát vọng ra đi, thì “Đêm Đại Dương” chính là khoảnh khắc người vượt biên đã thật sự lênh đênh trên biển.

Luật sư Nguyễn Tân Hải gọi đây là “viên kim cương” của tập “Thân Phận Ca”. Trong ca khúc này, tất cả cảm xúc của người vượt biển đều hiện diện: lo âu, hy vọng, hận đời và niềm tin vào tương lai.

“Đêm đại dương âm thầm/ Đoàn người xa quê hương/ Tìm biển khơi mênh mông/ Tìm trong hư không…”

Nguyễn Hồng-Anh kể rằng chuyến vượt biển của ông kéo dài khoảng bảy ngày bảy đêm. Trên chiếc thuyền nhỏ giữa đại dương, người ta vừa lo sợ vừa ôm giấc mơ về một đời sống mới.

Đặc biệt, bài hát không chỉ có bóng tối và tuyệt vọng. Ở cuối ca khúc, người nghe thấy lóe lên ánh sáng:
“Đêm nay huy hoàng/ Đêm ánh sáng quê hương/ Đêm nay tưng bừng/ Đêm hội của quê hương…”

Đó là niềm tin của những con người đã đánh đổi tất cả để tìm tự do.

Kết thúc buổi mạn đàm đầu tiên, Nguyễn Hồng-Anh nhắc đến những bạn bè đã chết trên biển, những vụ cướp bóc và hãm hiếp xảy ra trên đường vượt biên. Ông nói rằng phần tiếp theo của “Thân Phận Ca” sẽ đi sâu hơn vào những bi kịch ấy.

“Kiếp sau xin chớ làm người” – tiếng than của một thời đen tối

Buổi mạn đàm thứ hai mở đầu bằng một trong những ca khúc buồn nhất của Nguyễn Hồng-Anh: “Kiếp sau xin chớ làm người”, sáng tác năm 1979.
Bài hát lấy ý từ thơ Nguyễn Công Trứ:
“Kiếp sau xin chớ làm người/ Làm cây thông đứng giữa trời hát ca…”

Qua lời ca, tác giả nói đến tình trạng vừa đói nghèo vừa mất tự do dưới chế độ cộng sản sau năm 1975.

Khi chị Bích Thi hỏi tại sao ông lại muốn “kiếp sau xin chớ làm người”, Nguyễn Hồng-Anh trả lời rất giản dị: “Vì mình không được tự do nói. Không được tự do ca hát. Và cũng không có gì để ăn.”

Ông cho biết hình ảnh “Làm con chim bé vui đùa với mây” hay “thà làm muông thú sướng hơn” trong bài hát tượng trưng cho khát vọng tự do mà con người lúc ấy không có được.

Luật sư Nguyễn Tân Hải bình luận thêm rằng nếu được sống ở Úc, Mỹ hay Pháp thì làm người là điều hạnh phúc, nhưng làm người trong xã hội Việt Nam cuối thập niên 1970 lại là một nỗi đau.

Cuộc đối thoại ấy gợi lại tâm trạng chung của rất nhiều người miền Nam thời bấy giờ: một xã hội thiếu tự do, thiếu lương thực và đầy bất an.

Bìa tập nhạc và ký họa chân dung Nguyễn Hồng-Anh bởi Họa sĩ Nguyên Khai tại Galang năm 1981

Viết nhạc bằng tiếng Anh để kể với thế giới

Một trong những điểm đặc biệt của “Thân Phận Ca” là nhiều bài được Nguyễn Hồng-Anh viết bằng tiếng Anh trước khi chuyễn ngữ sang tiếng Việt.
Trong chương trình, ông cho biết mục đích của mình là muốn nói với thế giới bên ngoài về tình trạng của Việt Nam sau 1975.

Ca khúc “Vòng quanh thế giới” là một ví dụ tiêu biểu.
“Đi, đi là đi khắp nơi/ Đi vòng quanh thế giới/ Ra khơi đường muôn lối…”
Đó không chỉ là giấc mơ vượt biên, mà còn là khát vọng bước ra khỏi biên giới của một đất nước bị cô lập.

Nguyễn Hồng-Anh cho biết khi viết bài này, ông muốn chuyển tải thông điệp về tình trạng của Việt Nam đến người nước ngoài. Vì thế, ông viết bằng tiếng Anh trước.

Luật sư Nguyễn Tân Hải nhận xét rằng điều đó cho thấy Nguyễn Hồng-Anh đã sớm nghĩ đến việc đưa câu chuyện thuyền nhân Việt Nam ra với cộng đồng quốc tế.

Sau nhiều thập niên định cư ở Úc, giấc mơ “đi vòng quanh thế giới” của ông đã thành hiện thực. Tuy nhiên, như lời ông nói, càng đi nhiều nơi càng thấy đau cho số phận người dân Việt Nam.

“Điệu vũ thuyền nhân” – tiếng cười chua chát giữa biển khơi

Trong số các ca khúc của “Thân Phận Ca”, “Điệu vũ thuyền nhân” là bài có màu sắc đặc biệt nhất.

Khác với những bản ballad buồn bã, bài này được viết theo điệu cha cha cha với tiết tấu nhanh, mô tả cảnh người vượt biển say sóng:
“Ôm nhau nhảy như điên/ Điệu luân vũ không tên/ Ôm nhau ói liên miên/ Nhảy đêm nhảy suốt ngày…”

Còn gì cay đắng hơn.

Nguyễn Hồng-Anh cho biết ông viết bài này năm 1979, khi chưa vượt biên. Nhưng do từng đi tàu và thường bị say sóng, ông tưởng tượng ra cảnh người vượt biển bị sóng đánh chao đảo giữa đại dương.

Điệu cha cha cha được ông chọn vì nhịp điệu lắc lư giống như con tàu giữa biển.

Điều thú vị là dù được nhiều bạn bè yêu cầu trình bày ở khắp nơi, đây gần như là lần đầu tiên ông hát “Điệu vũ thuyền nhân” trong chương trình mạn đàm.

Mục lục tập nhạc và tranh vẽ của vài họa sĩ trong trại tị nạn Galang

“Bao giờ cho nguôi ngoai” – nỗi đau của những phụ nữ vượt biển

Một trong những phần xúc động nhất của buổi mạn đàm thứ hai là khi Nguyễn Hồng-Anh trình bày ca khúc “Bao giờ cho nguôi ngoai”, sáng tác tại Galang năm 1981.

Ông cho biết bài hát được viết sau khi nghe những câu chuyện về các thiếu nữ Việt Nam bị hải tặc hãm hiếp trên đường vượt biên.

“Em tôi người em gái/ Việt Nam tuổi chớm buồn/ Nhưng mang nặng đầy vai/ Niềm đau của quê hương…”

Bài hát là tiếng khóc cho những người con gái còn rất trẻ nhưng phải mang trên mình những thương tích tinh thần không bao giờ chữa lành.

“Bao giờ cho nguôi ngoai/ Hay là khi im hơi…”

Câu kết ấy khiến cả chương trình lặng đi.

Luật sư Nguyễn Tân Hải nhắc lại thống kê của Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp Quốc: hơn 100,000 người Việt đã chết trên biển trong hành trình tìm tự do.

Ông cũng nói rằng nhà cầm quyền Việt Nam muốn xóa bỏ những dấu tích thuyền nhân như bia tưởng niệm hay các công trình của người Việt ở đảo Bidong, bởi đó là chứng tích cho một giai đoạn đau thương của lịch sử.

“Biển vắng” – tiếng kêu giữa đại dương

Ca khúc cuối cùng trong buổi mạn đàm là “Biển vắng”, một bản nhạc đầy hình ảnh ám ảnh:
“Bao người qua đây/ Bao người đứng thấy/ Thây trôi lênh đênh/ Thây trôi chênh vênh…”

Qua tiếng hát của Nguyễn Hồng-Anh, “Biển vắng” giống như tiếng kêu cứu của những thuyền nhân lênh đênh giữa biển cả nhưng không ai nghe thấy.

Luật sư Nguyễn Tân Hải liên tưởng đến những người tị nạn từ châu Phi vượt Địa Trung Hải sang châu Âu ngày nay. Ông cho rằng bi kịch của người Việt năm xưa đang lặp lại ở nhiều nơi trên thế giới.

Trong phần trao đổi, chị Vũ Hà cũng nói rằng người Việt vượt biên thời trước tuy đau khổ nhưng vẫn may mắn hơn nhiều dân tộc khác, vì khi ấy thế giới còn rộng lòng đón nhận người tị nạn.

Bến tàu Galang năm 1981: tác giả sau khi tiễn bạn bè lên đường định cư

Tiếng hát gửi cho thế hệ mai sau

Ở phần kết thúc buổi mạn đàm thứ hai, Nguyễn Hồng-Anh nói rằng mục tiêu của ông khi viết “Thân Phận Ca” là chuyển tải thông điệp về số phận người Việt tị nạn đến thế hệ trẻ và cả người nước ngoài.

Ông cho biết dự định thực hiện một chương trình hoàn toàn bằng tiếng Anh trong tháng Tư để giới thiệu câu chuyện thuyền nhân cho giới trẻ Việt Nam sinh ra ở hải ngoại.

“Tôi viết khoảng mười bài tiếng Anh với mục đích giới thiệu tình trạng của đất nước chúng ta cho người Úc và những người không nói tiếng Việt,” ông nói.

Ý tưởng ấy cho thấy “Thân Phận Ca” không chỉ là hồi ký âm nhạc của một cá nhân, mà còn là nỗ lực gìn giữ ký ức lịch sử cho các thế hệ sau.

Một chứng từ bằng âm nhạc

Hai buổi mạn đàm với nhạc sĩ Nguyễn Hồng-Anh trên TV Tuần-san Online không đơn thuần là chương trình ca nhạc hay phỏng vấn nghệ sĩ. Đó là một dạng chứng từ lịch sử bằng âm nhạc.

Qua tiếng đàn guitar đơn sơ và những câu chuyện đời thường, khán giả được nghe lại tiếng nói của cả một thế hệ người Việt lưu vong: những người đã mất quê hương, mất tự do nhưng vẫn giữ được tiếng hát.

“Thân Phận Ca” vì thế không chỉ là nhạc của Nguyễn Hồng-Anh. Nó là tiếng lòng của hàng triệu người Việt đã trải qua biến cố sau năm 1975, là ký ức của trại tị nạn Galang, của những chuyến tàu vượt biển, của những người chết giữa đại dương và của những người còn sống để kể lại câu chuyện ấy cho mai sau.

Gần nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày những ca khúc ấy ra đời, nhưng khi nghe lại hôm nay, người ta vẫn cảm nhận được nguyên vẹn nỗi đau, niềm hy vọng và khát vọng tự do trong từng lời hát.

Và có lẽ chính vì thế, “Thân Phận Ca” vẫn còn giá trị như một phần ký ức không thể xóa nhòa của cộng đồng người Việt tị nạn trên khắp thế giới.