Khán thính giả buổi chiều 16/8/2017 tại Nhà Việt Nam ở Oslo Trong hành trình 50 năm sáng tác của Nguyễn Hồng-Anh, có những bài hát ra đời từ một biến cố của đất nước, có bài bắt nguồn từ một kỷ niệm riêng, có bài được viết trong những ngày đầu của cuộc đời tị nạn. Nhưng cũng có những bài hát phải đi qua hàng chục năm mới gặp được người nghe ở một nơi rất xa nơi chúng được sinh ra.
Buổi chiều 16 tháng 8 năm 2017 tại Nhà Việt Nam ở Oslo, Na Uy, là một cuộc gặp như thế.
Nguyễn Hồng-Anh đến Oslo trong một chuyến đi qua các nước Bắc Âu cùng vợ là Vũ Thị Hà. Mục đích chính của chuyến đi là du lịch, viết những bài “Bút ký đường xa” cho TiVi Tuần-san và thực hiện một số phóng sự bằng hình ảnh, video. Oslo không phải là một điểm hẹn âm nhạc được chuẩn bị từ trước.
Thế nhưng, từ một lá thư làm quen gửi đến người trong cộng đồng Việt Nam tại Na Uy, một buổi gặp gỡ đồng hương đã được tổ chức. Và rồi, từ một cuộc gặp cộng đồng, âm nhạc xuất hiện. Một cây guitar, một số ca khúc được sáng tác trong suốt nhiều thập niên, những người Việt xa quê và những câu chuyện về một quê hương cách xa hàng ngàn cây số.
Buổi chiều ấy, vì vậy, trở thành một dấu mốc đáng nhớ trong hành trình 50 năm cung đàn.
Từ một lá thư đến “xứ lạnh tình nồng”
Trước chuyến đi Bắc Âu năm 2017, Nguyễn Hồng-Anh liên lạc với ông Phạm Sĩ Việt, một người hoạt động lâu năm trong cộng đồng người Việt tại Na Uy.
Trong thư, ông cho biết sẽ ở Oslo từ ngày 14 đến 18 tháng 8, vừa du lịch vừa thực hiện các bài viết và video cho TiVi Tuần-san. Ông cũng ngỏ ý muốn gặp đồng hương và nếu có dịp sẽ tự đệm guitar, hát một số ca khúc do mình sáng tác.
Đó là một lời đề nghị khá đơn giản. Nhưng ông Phạm Sĩ Việt kể rằng lúc đầu ông cũng có phần dè dặt. Người từ Úc sang, ông chưa biết rõ là ai nên đã tìm hiểu qua bạn bè ở Úc và Hoa Kỳ. Sau khi biết Nguyễn Hồng-Anh đã nhiều năm làm báo, sinh hoạt cộng đồng và sáng tác âm nhạc tại Victoria, ông mới yên tâm cùng Hội Người Việt Tị Nạn tại Na Uy tổ chức cuộc gặp.
Sự dè dặt ban đầu ấy rồi nhanh chóng biến thành sự thân tình.

Ông Phạm Sĩ Việt giới thiệu ông Nguyễn Hồng-Anh. Hình phải: ông Lê Minh Triết từ Pháp đến dự buổi văn nghệ và ông chủ tịch hội NVTN ở Na Uy Phạm Hoàng Minh
Chiều 16 tháng 8, tại Nhà Việt Nam ở Oslo, ông Phạm Hoàng Minh, Chủ tịch Hội Người Việt Tị Nạn tại Na Uy, giới thiệu Nguyễn Hồng-Anh và Vũ Thị Hà trước đông đảo đồng hương và đại diện các hội đoàn.
Không có một sân khấu lớn. Không có ban nhạc đông người. Nguyễn Hồng-Anh chỉ dùng cây guitar của người trong hội và tự đệm đàn. Nhưng chính cây đàn đơn sơ ấy lại đưa người nghe trở về với những năm tháng mà nhiều người tưởng đã nằm rất sâu trong ký ức.
Trong lời giới thiệu, ông Phạm Sĩ Việt gọi Nguyễn Hồng-Anh là một người đến từ “miệt dưới”, tức nước Úc, đồng thời nhắc đến công việc làm báo, sáng tác và ca hát của ông. Ông Việt còn nhắc đến những tên tuổi ca nhạc mà ông từng nghe và bày tỏ niềm vui khi được nghe Nguyễn Hồng-Anh hát.
Không khí của buổi gặp dần trở nên thân tình hơn. Và Nguyễn Hồng-Anh gọi Na Uy là một nơi “xứ lạnh tình nồng”. Câu nói ấy có lẽ là cách ngắn gọn nhất để diễn tả cảm giác của một người Việt Nam từ Melbourne đến Oslo và bất ngờ gặp lại một cộng đồng đồng hương trong một không gian rất xa quê hương.
Những ca khúc đi qua những năm tháng Việt Nam
Nếu nhìn lại chương trình tại Oslo, có thể thấy những ca khúc được trình bày gần như tạo thành một dòng thời gian của chính người sáng tác. Từ những năm sau 1975, đến những ngày vượt biển, những năm đầu định cư tại Úc, rồi những suy tư về quê hương, dân tộc và thân phận người Việt.
Một trong những bài được nhắc đến là “Hòa Bình Lừa Dối”, sáng tác năm 1977.
Đó là thời điểm chỉ mới hai năm sau biến cố 1975. Với Nguyễn Hồng-Anh, “hòa bình” sau chiến tranh không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với bình yên. Trong ký ức của nhiều người, những năm tháng sau đó còn có tù đày, chia lìa, mất mát và những cuộc ra đi.

Cô Thúy Liễu trình bày ca khúc Đêm Đại Dương của Nguyễn Hồng-Anh, một bài hát chỉ tập trước một tiếng
Nhiều năm sau, trong chuyến đến Oslo, Nguyễn Hồng-Anh ghé Trung tâm Nobel Hòa bình. Nhìn hình ảnh Henry Kissinger, người được trao giải Nobel Hòa bình năm 1973, ông liên tưởng đến chữ “hòa bình” và những gì Việt Nam đã trải qua.
Một ca khúc viết từ năm 1977, vì vậy, lại được nhìn từ một khoảng cách 40 năm.
Nhưng điều đáng nói là “Hòa Bình Lừa Dối” không chỉ thuộc về năm 1977. Nó còn gắn với những ngày đầu của chính Nguyễn Hồng-Anh tại Úc.
Năm 1981, khi mới sang Úc, ông gần như không có gì ngoài quần áo trên người và đôi dép, lại không có đàn. Trong một buổi sinh hoạt văn nghệ cộng đồng, ông hát “Hòa Bình Lừa Dối”. Một nữ nhà báo Úc nghe được câu chuyện và viết về người tị nạn Việt Nam dùng tiếng hát để nói lên tâm trạng quê hương. Sau bài báo ấy, Nguyễn Hồng-Anh được tặng một cây đàn.
Chi tiết nhỏ này, nhìn lại trong hành trình 50 năm cung đàn, thật đáng nhớ: một người mới đến Úc, chưa có nhạc cụ, nhưng vẫn hát; và chính tiếng hát đã giúp ông có được cây đàn để tiếp tục con đường âm nhạc.
“Dòng Máu Việt Nam” – gần 30 năm để hoàn tất
Một trong những ca khúc quan trọng được trình bày tại Oslo là “Dòng Máu Việt Nam”.
Đây là một bài hát có một hành trình rất đặc biệt. Nguyễn Hồng-Anh bắt đầu viết bài từ năm 1984. Khi ấy ông chỉ hoàn thành một phiên khúc và một điệp khúc. Bài hát sau đó bị bỏ dở, dù vẫn được ông trình bày trong một số dịp, như trong dịp tưởng niệm 30 tháng 4 tại hội trường giáo xứ St Joseph ở Collingwood mà khi vừa nghe xong, Chủ nhiệm kiêm chủ bút báo Nhân Quyền Hồ Công Lộ (nay đã qua đời) nói với ông rằng bài hát rất hay cả lời lẫn nhạc, và với giọng ca của ông, sẽ được nhiều người biết sau này.

Victoria Street Getaway mà Nguyễn Hồng-Anh thường gọi ngắn gọn cho dễ nói và dễ nhớ là Cổng Lạc Việt, là nguồn cảm hứng để ông viết phiên khúc cuối cùng cho bài hát Dòng Máu Việt Nam, một sáng tác 28 năm mới hoàn tất và cũng là ca khúc của ông được nhiều người nghe nhất, là nhạc hiệu của các chương trình Thời sự Trong tuần và Giờ Nguyễn Hồng-Anh trên mạng
Gần 30 năm sau, năm 2012, cảm hứng trở lại. Lần này, nguồn cảm hứng đến từ một dự án mang những biểu tượng Việt Nam tại Richmond, Melbourne, khi ông được các anh trong Hội Thương gia Richmond trên đường Victoria mời với vai trò là chủ bút báo TVTS đến xem địa điểm sẽ xây Victoria Street Gateway với kinh phí trên $2 triệu Úc kim có hình ảnh chim Lạc, trống đồng và chiếc thuyền chở trăm trứng. Cổng có tên chính thức Victoria Street Gateway nhưng sau đó khi viết bài, ông thường gọi là Cổng Lạc Việt cho dễ nói, dễ nhớ đối với người Việt.
Chiếc thuyền gợi nhớ những người Việt vượt biển. Trống đồng gợi về nguồn cội xa xưa. Còn chim Lạc trở thành hình ảnh nối quá khứ với hiện tại, nối quê hương với những người Việt đang sống ở khắp nơi trên thế giới.
Đặc biệt, hình ảnh hai chim Lạc khiến Nguyễn Hồng-Anh liên tưởng đến những người Việt Nam ở hai phía của biển, nhưng vẫn cùng một nguồn cội. Từ những hình ảnh ấy, phần ca khúc còn dang dở từ năm 1984 được hoàn tất với phiên khúc cuối.
Một bài hát mất gần 30 năm mới hoàn thành vì thế không đơn thuần là một sáng tác âm nhạc. Nó giống như một dòng ký ức được người viết mang theo qua nhiều chặng đường của đời mình.
Và khi “Dòng Máu Việt Nam” vang lên ở Oslo, bài hát ấy đã đi một quãng đường rất xa: từ những suy nghĩ ở Melbourne đến một căn phòng sinh hoạt cộng đồng ở thủ đô Na Uy.

Nguyễn Hồng-Anh hát ca khúc Như Người Việt Nam, sáng tác vào tháng 5/1984
“Đêm Đại Dương” – từ ngày 23 tháng 4 đến Galang
Nhưng trong buổi chiều tại Oslo, có lẽ một trong những khoảnh khắc đặc biệt nhất đối với Nguyễn Hồng-Anh lại đến từ “Đêm Đại Dương”. Người trình bày ca khúc là ca sĩ Thúy Liễu.
Đây là một chi tiết đặc biệt, bởi “Đêm Đại Dương” không phải một bài hát xa lạ với Nguyễn Hồng-Anh. Nó gắn với một dấu mốc rất sâu trong cuộc đời ông: ngày rời Sài Gòn bằng đường biển 23 tháng 4 năm 1980 và ngày đến đảo Galang 30 tháng 4 năm 1980.
Hai ngày ấy, cách nhau đúng một tuần, đã trở thành những mốc không thể quên trong đời ông. Ngày 23 tháng 4 là ngày rời Sài Gòn. Ngày 30 tháng 4 là ngày đặt chân đến Galang.
Giữa hai dấu mốc ấy là biển cả, là một cuộc ra đi mà ông không biết tương lai sẽ đưa mình đến đâu. Và chính từ ký ức của những ngày lênh đênh trên biển, từ tâm trạng của một người đang rời bỏ quê hương, “Đêm Đại Dương” đã ra đời tại trại tị nạn Galang.
Đó không chỉ là một ca khúc về biển. Đó là một phần đời được đưa vào âm nhạc.
Nhiều năm sau, một điều bất ngờ xảy ra ở Oslo. Thúy Liễu đã biết đến ca khúc qua Internet. Sau khi xem những chương trình có Nguyễn Hồng-Anh trình diễn tại Melbourne, cô tìm thêm trên YouTube và bắt gặp “Đêm Đại Dương”.

Một góc khác trong hội trường khi khán thính giả lắng nghe và ghi hình
Một ca khúc được viết từ ký ức vượt biển của một người Việt Nam năm 1981, sau đó xuất hiện trên Internet và đến tai một người Việt Nam đang sống tại Na Uy. Rồi người ấy học bài hát để hát cho chính tác giả nghe. Đó là một trong những điều đẹp nhất có thể xảy ra với một người sáng tác.
Người viết bài hát không biết bài hát của mình đã đi đến đâu. Nhưng một ngày nào đó, nó trở lại với ông từ một nơi rất xa. Và lần này, người hát không phải là tác giả. Đó là Thúy Liễu, một người trong cộng đồng Việt Nam tại Oslo.
Từ Sài Gòn đến Galang. Từ Galang đến Úc. Từ Melbourne đến YouTube. Và từ YouTube đến Oslo. Một bài hát đã đi một hành trình dài gần bằng chính cuộc đời của người viết.
Đặc biệt, ngày 30 tháng 4 năm 1980, ngày Nguyễn Hồng-Anh đến Kuku, Galang, lại càng làm cho câu chuyện có một ý nghĩa riêng. Đó chính là ngày mà đối với nhiều người Việt Nam là ngày đất nước đổi thay. Còn đối với người vượt biển, đó có thể là ngày bắt đầu một cuộc đời khác.
Với Nguyễn Hồng-Anh, 23 tháng 4 và 30 tháng 4 năm 1980 là hai dấu mốc gắn liền với nhau: một ngày rời quê hương và một ngày đặt chân đến vùng đất tạm dung.
Và “Đêm Đại Dương” đã giữ lại một phần ký ức ấy bằng âm nhạc.

Ông Phạm Hoàng Minh giới thiệu cô Xuân Liễu (góc trái) đại diện cho Hội NVTN Na Uy trao quà đặc sản Na Uy cho ông bà Nguyễn Hồng-Anh
Từ “Đứng Dậy” đến “Như Người Việt Nam”
Buổi gặp tại Oslo không chỉ có những ca khúc nhìn về quá khứ. Không khí chương trình có lúc trở nên mạnh mẽ với “Đứng Dậy Dân Ta Ơi”, sáng tác trong bối cảnh Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào vùng biển Việt Nam năm 2014.
Nếu “Hòa Bình Lừa Dối” là tiếng nói của một thế hệ sau chiến tranh, “Đứng Dậy Dân Ta Ơi” lại là phản ứng của một người Việt Nam trước vấn đề chủ quyền đất nước. Âm nhạc ở đây không chỉ để hoài niệm. Nó còn là cách người sáng tác bày tỏ thái độ trước thời cuộc.
Trong buổi gặp hôm ấy có ông Lê Minh Triết, từ Paris sang Na Uy cùng vợ. Ông Triết là người từng nhiều năm hoạt động trong cộng đồng người Việt tại Pháp. Khi nghe Nguyễn Hồng-Anh trình bày, ông đưa ra một nhận xét khá đẹp về vai trò của người nhạc sĩ: Nếu không cầm được súng thì có thể cầm đàn, không biết đàn thì có thể nghe đàn.
Ý tưởng ấy phần nào nói đúng về con đường âm nhạc của Nguyễn Hồng-Anh. Trong nhiều sáng tác của ông, cây đàn không chỉ để giải trí. Nó là phương tiện kể chuyện. Kể chuyện của một người. Kể chuyện của một thế hệ. Và đôi khi kể chuyện của một dân tộc.

Ban tổ chức và khách từ phương xa chụp hình lưu niệm
“Như Người Việt Nam” là một ví dụ khác. Bài hát hướng đến lòng tự trọng và ý thức về căn cước. Người Việt Nam sống ở đâu cũng có thể mang theo một phần nguồn gốc của mình.
Nếu “Dòng Máu Việt Nam” nhấn mạnh đến sự nối kết, thì “Như Người Việt Nam” lại nói nhiều hơn đến tư cách, phẩm giá và ý thức mình là người Việt.
Hai ca khúc, vì thế, bổ sung cho nhau. Một bên là dòng máu. Một bên là cách sống.
Những người trẻ và câu hỏi về nguồn cội
Điều đáng chú ý trong buổi chiều Oslo là chương trình không chỉ có những người thuộc thế hệ đã rời Việt Nam. Sự hiện diện của những người trẻ khiến câu chuyện trở nên rộng hơn.
Một thế hệ đã rời Việt Nam bằng thuyền. Một thế hệ khác sinh ra hoặc lớn lên tại những đất nước mới. Nhưng câu hỏi về căn cước vẫn còn đó: Mình là ai? Mình thuộc về đâu? Và mình sẽ giữ lại điều gì từ nguồn gốc của mình?
Chính ở điểm này, những ca khúc của Nguyễn Hồng-Anh có một đời sống khác. Chúng không còn chỉ là những bài hát kể lại quá khứ của một người đã đi qua chiến tranh và vượt biển. Chúng có thể trở thành một chiếc cầu để thế hệ sau tìm hiểu về câu chuyện của cha mẹ và ông bà mình.
Một ca khúc được viết năm 1981 có thể đến với một người trẻ vào năm 2017 qua Internet. Đó là điều mà khi sáng tác, người nhạc sĩ có lẽ không thể đoán trước.

Từ trái: Nguyễn Hồng-Anh, Vũ Hà, ca sĩ Thúy Liễu và ông Phạm Hoàng Minh
Từ quê hương đến tình yêu và thiền
Nguyễn Hồng-Anh không chỉ viết những ca khúc về đất nước và thân phận người Việt. Trong hành trình sáng tác của ông còn có tình ca và những bài mang màu sắc thiền.
“Thiền Sư Xuống Núi” là một trường hợp đặc biệt, được cảm hứng từ tư tưởng và câu chuyện trong tác phẩm “Câu Chuyện Giòng Sông” của Hermann Hesse, xoay quanh hành trình tâm linh của Siddhartha.
Hình ảnh một thiền sư xuống núi cũng là một hình ảnh nhiều ý nghĩa. Rời khỏi thế giới tu hành để trở lại với cuộc đời, với tình yêu, với những vui buồn và cám dỗ của trần thế.
Từ “Thiền Sư Xuống Núi” đến “Của Hồi Môn”, rồi những ca khúc khác, người nghe gặp một Nguyễn Hồng-Anh khác: không phải người nhạc sĩ của những bài hát về lịch sử và thời cuộc, mà là một người viết về tình yêu, lựa chọn và những nghịch lý của đời sống.
Sự đa dạng ấy làm cho “50 năm cung đàn” không chỉ là một dòng nhạc về quê hương. Đó là một đời sống âm nhạc có nhiều lớp.
Một cây đàn, một cộng đồng và một cuộc gặp không hẹn trước
Khoảng 6 giờ chiều, buổi sinh hoạt tại Nhà Việt Nam kết thúc. Nguyễn Hồng-Anh và Vũ Thị Hà nhận những món quà kỷ niệm của ban tổ chức. Trong những món quà ấy có dụng cụ bào cheese và những thỏi cheese đặc trưng của Na Uy.
Một chuyện vui xảy ra khi hai vị khách ban đầu không hiểu công dụng của món quà. Mọi người cùng cười. Một chi tiết rất nhỏ, nhưng lại làm buổi chiều trở nên gần gũi.
Bởi bên cạnh những câu chuyện nặng về chiến tranh, vượt biển, mất quê hương và thân phận, cuộc sống của cộng đồng vẫn có những tiếng cười bình dị.
Đó có lẽ cũng là điều đáng nhớ nhất của buổi gặp. Không phải một concert lớn. Không có một sân khấu hoành tráng. Chỉ có một cây guitar, một số ca khúc, những người Việt Nam xa quê và những câu chuyện đã đi qua nhiều thập niên. Nhưng chính trong không gian nhỏ ấy, những bài hát lại tìm được một đời sống mới.

Ông Nguyễn Hồng-Anh phỏng vấn ông Hội trưởng Phạm Hoàng Minh về sinh hoạt của cộng đồng người Việt tị nạn ở Na Uy
“Dòng Máu Việt Nam” mang theo câu chuyện về nguồn cội.
“Hòa Bình Lừa Dối” mang theo ký ức của những năm sau 1975.
“Đứng Dậy Dân Ta Ơi” mang theo tiếng nói trước thời cuộc.
“Như Người Việt Nam” mang theo ý thức về căn cước.
Và “Đêm Đại Dương” mang theo biển cả, Sài Gòn, Galang và một cuộc ra đi ngày 23 tháng 4 năm 1980.
Tất cả gặp nhau tại Oslo.
Những tiếng hát quê hương đi xa hơn người viết tưởng
Nhìn lại từ hôm nay, buổi chiều âm nhạc tại Oslo năm 2017 có một ý nghĩa khá đặc biệt trong hành trình 50 năm cung đàn Nguyễn Hồng-Anh.
Từ năm 1976, ông bắt đầu viết nhạc trong những năm tháng đầy biến động. Rồi đến cuộc vượt biển năm 1980.
Ngày 23 tháng 4 năm 1980, ông rời Sài Gòn.
Ngày 30 tháng 4 năm 1980, ông đến Galang.
Hai ngày ấy trở thành những dấu mốc của một cuộc đời. Sau đó là Úc, là Melbourne, là nghề làm báo, là sinh hoạt cộng đồng, là những chương trình ca nhạc và những bài hát tiếp tục ra đời.
Nhưng điều kỳ lạ của âm nhạc là người viết không bao giờ thật sự biết số phận của một bài hát sau khi nó được viết ra.
“Dòng Máu Việt Nam” mất gần 30 năm mới hoàn tất.
“Hòa Bình Lừa Dối” từ một bài hát viết năm 1977 lại gắn với những ngày đầu của người sáng tác ở thành phố Adelaide, Úc.
“Đêm Đại Dương” giữ lại ký ức của một cuộc vượt biển năm 1980, rồi nhiều năm sau được Thúy Liễu tìm thấy trên Internet và hát tại Oslo.
Một bài hát có thể đi xa hơn người viết. Một cây đàn có thể nối những nơi cách nhau nửa vòng trái đất. Và một tiếng hát có thể làm những người chưa từng quen biết nhận ra rằng họ cùng chia sẻ một ký ức.Có lẽ đó chính là điều đã x ảy ra tại Oslo.

Ông cựu Hội trưởng Hội NVTN Na Uy (Bác Vịnh) gắn huy hiệu tị nạn của hội cho ông Nguyễn Hồng-Anh
Nguyễn Hồng-Anh đến Na Uy để viết “Bút ký đường xa”. Ông không biết rằng mình sẽ có một buổi trình diễn. Ông càng không biết rằng một người trong cộng đồng sẽ hát “Đêm Đại Dương” cho mình nghe. Nhưng cuối cùng, chính những bài hát đã tạo nên cuộc gặp.
Từ những ký ức của một thế hệ đến sự tiếp nhận của những người đến sau. Đó không chỉ là một buổi văn nghệ. Đó là một đoạn đường của 50 năm cung đàn Nguyễn Hồng-Anh.
Và có lẽ, sau cùng, điều quý giá nhất của người viết nhạc không phải là đã viết được bao nhiêu bài hát, mà là những bài hát ấy đã tìm được ai để nghe, ai để hát lại và ai để tiếp tục mang chúng đi xa.
Ở Oslo năm ấy, những tiếng hát quê hương đã đi thêm một chặng đường. Và trong một buổi chiều “xứ lạnh tình nồng”, chúng đã tìm được tiếng vọng của mình giữa những người Việt Nam xa quê.
***Ghi chú: Bài viết được biên tập và viết lại dựa trên transcript từ youtube video Vòng Quanh Thế Giới do TVTS thực hiện và tư liệu tường thuật của ông Phạm Sĩ Việt về buổi gặp gỡ, trình diễn của Nguyễn Hồng-Anh tại Nhà Việt Nam, Oslo, tháng 8 năm 2017.
Các chi tiết về hành trình vượt biển và những mốc thời gian trong đời Nguyễn Hồng-Anh được bổ sung theo lời kể của tác giả. Các hình trong bài gồm của TVTS, Phạm Sĩ Việt và NguyenNgocAnh
(Theo tuần san điện tử etvts.com.au số 2098 phát hành ngày 26.8.2026)