Nguyễn Hồng-Anh (góc phải) ngày ra mắt Ban Đại diện Sinh viên CTKD năm 1971 và ngồi ở hành lang văn phòng Trường Chính trị Kinh Doanh VĐH Đà Lạt Trong loạt bài “50 cung đàn Nguyễn Hồng-Anh”, kỳ thứ ba này có lẽ là một dấu mốc đặc biệt. Đây là cuộc trò chuyện dài và đầy đủ bậc nhất về cuộc đời, sự nghiệp và tâm tư của nhạc sĩ – nhà báo Nguyễn Hồng-Anh qua cuộc phỏng vấn của nhà báo Phiến Đan trên đài Little Saigon TV. Hai người chưa từng gặp nhau trước đó, nhưng cuộc đối thoại lại mở ra nhiều lát cắt chân thật về một hành trình hiếm có: từ người thanh niên rời quê hương trong biến động lịch sử, đến người sáng lập một tờ báo uy tín tại Úc, đồng thời vẫn giữ ngọn lửa âm nhạc hướng về quê nhà.
Một cuộc đời rẽ sang nhiều hướng
Phiến Đan mở đầu chương trình bằng lời giới thiệu đầy trân trọng: Nguyễn Hồng-Anh là một người đến từ “Down Under” – Nam bán cầu xa xôi – nhưng lại là cái tên quen thuộc với cộng đồng người Việt tại Úc.
Trước khi được biết đến như nhạc sĩ, Nguyễn Hồng-Anh là người gắn bó nhiều năm với truyền thông Việt ngữ tại Úc. Công việc báo chí đưa ông đến với đời sống cộng đồng, với những vấn đề thời sự, với nỗi vui buồn của người Việt nơi xứ người. Làm báo, với ông, không chỉ là nghề nghiệp mà còn là trách nhiệm giữ gìn tiếng nói chung của cộng đồng lưu vong.
Nhưng nếu báo chí đòi hỏi sự tỉnh táo, chính xác và phản ứng trước thời cuộc, thì trong sâu thẳm con người ông vẫn tồn tại một khoảng riêng dành cho nghệ thuật. Âm nhạc là nơi ông được nói bằng cảm xúc, bằng suy tư riêng, bằng những rung động khó diễn tả qua ngôn ngữ thời sự.
Nếu nhìn bên ngoài, đó là hành trình của một người thành công ở nước Úc. Nhưng trong lời kể của chính ông, mọi thứ không được vạch sẵn. Ông nói mình đến với nghề báo hoàn toàn do “duyên”, không phải do tính toán.

Nguyễn Hồng-Anh trình diễn ca khúc “Chiều viễn xứ chiều nhớ quê hương” viết tại trại tị nạn Galang năm 1980 với ban nhạc “Yêu Thương” với vài ca sĩ thân hữu hát bè trong đêm nhạc chủ đề “Thân Phận Ca”
Thuở trẻ, ông thích nghề báo nên muốn học ngành báo chí. Nhưng trường muốn bỏ vì cho rằng ra trường khó kiếm việc. Đại diện cho sinh viên Chính trị Kinh doanh, ông tranh đấu để trường chỉ bỏ nhiệm ý báo chí và ngoại giao sau khi các sinh viên đang học các ngành đó đã tốt nghiệp. Đấu tranh thành công, tuy nhiên ông lại nghe lời giáo sư khoa trưởng để chuyển sang học kinh doanh và đã tìm được việc khi ra trường.
Sang Úc, từ việc làm một tờ chương trình truyền hình nhỏ, cái tên TiVi Tuần-san (TV Week) dần dần phát triển thành một cơ quan báo chí chuyên nghiệp. Không có kế hoạch từ trước, không vốn liếng lớn, chỉ là một cơ hội đến đúng lúc và một con người dám đi tới cùng.
Ông cười nhẹ khi được hỏi đó là “duyên hay nghiệp”: “Tôi nghĩ là cái duyên nhiều hơn.”
Trong lịch sử văn nghệ Việt Nam hải ngoại, có nhiều tiếng nói đến từ những tên tuổi nổi bật trên sân khấu, nhưng cũng có những tiếng nói lặng lẽ hơn, tồn tại bền bỉ như một dòng chảy ngầm của ký ức và căn cước. Trường hợp của nhạc sĩ – nhà báo Nguyễn Hồng-Anh là một ví dụ tiêu biểu. Từ toàn bộ cuộc phỏng vấn dài trên một tiếng đồng hồ với chương trình Văn Hóa và Con Người của Phiến Đan, chân dung ông hiện ra không chỉ như một người viết nhạc, mà như một nhân chứng của thời cuộc, dùng âm nhạc để đối thoại với lưu vong, với quê hương, và với chính mình.
Âm nhạc như hành trình đi tìm bản ngã
Ở Nguyễn Hồng-Anh, âm nhạc không bắt đầu từ tham vọng nghề nghiệp. Ông không tự nhận mình là một “nhạc sĩ chuyên nghiệp” theo nghĩa thị trường hay danh vọng. Việc sáng tác đến từ nhu cầu nội tâm: khi có điều gì cần nói, cần giải tỏa, cần đặt câu hỏi với đời sống, ông viết. Chính điểm này làm âm nhạc của ông gần với truyền thống “ca khúc tư tưởng” hơn là dòng ca khúc giải trí, như Giám mục Phụ tá Tổng Giáo phận Melbourne Nguyễn Văn Long nhận xét trong ngày ra mắt CD Boat People Dance ngày 30.4.2015 tại tòa soạn TiVi Tuần-san.
Ông từng nói có lúc muốn viết cũng không viết được nhưng khi cảm xúc đến thì bài hát xuất hiện rất nhanh. Điều đó cho thấy sáng tác đối với ông là trạng thái bộc phát của tâm hồn hơn là thao tác kỹ thuật. Giai điệu, tiết tấu, ca từ được chọn tùy theo nội dung cảm xúc: nếu muốn thúc giục thì nhạc phải mạnh; nếu muốn gợi nhớ quê hương thì nhạc cần trầm, buồn và mềm. Đây là quan niệm rất cổ điển: hình thức nghệ thuật phải phục vụ tinh thần của tác phẩm.
Khi nói về những người ảnh hưởng đến mình, Nguyễn Hồng-Anh nhắc đến ba tên tuổi lớn: Phạm Duy, Trịnh Công Sơn và Lê Uyên Phương.
Với Phạm Duy, ông ngưỡng mộ sự đồ sộ và đa dạng trong di sản âm nhạc, đặc biệt là khả năng kết hợp giai điệu với ca từ giàu chất thơ. Đây là ảnh hưởng về cấu trúc và tầm vóc nghệ thuật.

Chờ Phiến Đan đến phỏng vấn, Nguyễn Hồng-Anh đứng trước trụ sở của Đài Little Saigon TV nhìn qua khu Phước Lộc Thọ
Với Trịnh Công Sơn, điều hấp dẫn không nằm ở quê quán Huế chung, mà ở chiều sâu suy tưởng. Nhạc Trịnh Công Sơn nói về thân phận đất nước trong chiến tranh, đồng thời chứa chất thiền tính và tính mở trong ngôn ngữ: mỗi người nghe có thể hiểu theo cách riêng. Ảnh hưởng này phản ánh rõ trong xu hướng triết luận nơi ca từ của Nguyễn Hồng-Anh.
Với Lê Uyên Phương, ký ức Đà Lạt là yếu tố quan trọng. Ông từng nghe đôi nghệ sĩ này hát trong những quán cà phê sương mù. Âm nhạc của họ, với tình yêu quấn quýt và phong cách táo bạo, để lại trong ông ấn tượng khó phai.
Ngoài ra, ông còn nhắc đến ban nhạc The Beatles, nhất là trong những ca khúc tiếng Anh. Điều này cho thấy tâm thức âm nhạc của ông không khép kín trong biên giới Việt Nam mà mở ra với thế giới.
Một điểm đặc biệt trong chân dung âm nhạc của Nguyễn Hồng-Anh là sự quan tâm đến chiều kích triết học và tôn giáo. Dù là người Công giáo, ông lại tìm thấy sức hấp dẫn nơi tư tưởng Phật giáo vì tính triết luận và khả năng khơi gợi suy tư.
Điều này kết tinh trong ba ca khúc: Thiền Sư Xuống Núi, Của Hồi Môn, và Thiền Sư Lên Núi. Bộ ba này lấy cảm hứng từ tiểu thuyết Siddhartha của Hermann Hesse. Hình tượng vị tu sĩ rời non cao bước vào đời, sống yêu đương, rồi giác ngộ để trở về, trở thành ẩn dụ cho hành trình con người đi qua đam mê, trải nghiệm và thức tỉnh.
Nếu đọc rộng hơn, đây cũng là ẩn dụ của người lưu vong: rời bỏ chốn cũ, dấn thân vào đời sống mới, va đập với thực tại, rồi luôn mang nhu cầu trở về với căn nguyên tinh thần. “Lên núi” và “xuống núi” vì thế không chỉ là hành động của thiền sư, mà là nhịp đi của mọi kiếp người.

Phiến Đan song ca song ngữ với Nguyễn Hồng-Anh bài “Il est temps de partir – Giờ đã đến để ra đi”
Lưu vong như vết thương và trách nhiệm
Chủ đề trung tâm trong sáng tác của Nguyễn Hồng-Anh là thân phận Việt Nam sau biến động lịch sử. Ông nhiều lần nhắc đến câu hỏi: mình còn nhớ đất nước không, mình đã làm gì cho đất nước mình?
Ca khúc Tôi Hỏi Tôi là một minh chứng rõ nét. Tác phẩm không lên gân chính trị mà bắt đầu từ đối thoại nội tâm. Người hát chất vấn chính mình giữa “nhung lụa cuộc đời” nơi xứ người: liệu tiện nghi vật chất có làm phai mờ ký ức quê hương? Đây là tâm trạng phổ biến của cộng đồng lưu vong thế hệ đầu– vừa xây dựng đời sống mới, vừa day dứt vì quê nhà còn chìm trong khó khăn và độc tài.
Bên cạnh suy tư cá nhân, Nguyễn Hồng-Anh còn viết những ca khúc mang tinh thần công dân rõ rệt như Từ Bạch Đằng Đến Biển Đông hay Đứng Dậy Dân Ta Ơi.
Những bài hát này ra đời trong bối cảnh căng thẳng Biển Đông, đặc biệt thời vụ giàn khoan Hải Dương 981. Với ông, âm nhạc là phương tiện để gửi thông điệp đến đồng bào trong và ngoài nước: ý thức chủ quyền không thể ngủ quên. Dù khiêm tốn nói rằng mình không nghĩ nhạc có thể thay đổi thời cuộc, việc sáng tác các ca khúc ấy tự thân đã là một hành động chính trị – không phải chính trị đảng phái, mà là chính trị của trách nhiệm công dân.
Một chi tiết giàu ý nghĩa trong cuộc đời ông là quãng thời gian gần ba mươi năm không cầm đàn. Cuộc mưu sinh, nghề báo, đời sống định cư đã khiến âm nhạc lùi vào hậu trường. Nhưng rồi ông trở lại.
Sự trở lại ấy không nhằm tìm danh tiếng. Ông nói ở tuổi này không còn cần danh vọng nữa, chỉ muốn chia sẻ điều mình có với người thưởng ngoạn. Đây là sự chuyển hóa quan trọng: âm nhạc từ chỗ là tiếng nói cá nhân trở thành món quà tinh thần cho cộng đồng.
Những ca khúc mới như Mùa Thu Cuộc Đời viết năm 2014 trước khi qua Mỹ trình diễn và sau này như Trăm Năm Một Đời hay Đời Cho Ta viết năm 2016 cho thấy cái nhìn đã dịu lại. Nếu trước đây là thao thức về đất nước, thì nay còn có sự biết ơn đời sống, sự chiêm nghiệm về tuổi tác, tình yêu và tha thứ.

Nguyễn Hồng-Anh được vợ chồng nhạc trưởng Lê Văn Khoa và ca sĩ Ngọc Hà (bìa trái và phải) tặng cho một cà vạt có cờ VNCH và một CD nhạc của ông) để làm kỷ niệm trong bữa tiệc do vợ chồng Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh (giữa, bên trái NHA) và Phiến Đan thết đãi. Ca sĩ Ngọc Hà có tham gia hát bài “Everybody wanna go away” của NHA
Giá trị của một tiếng nói hải ngoại
Trong cuộc phỏng vấn, người dẫn chương trình nhiều lần nhấn mạnh vai trò của sáng tác hải ngoại trước làn sóng văn hóa từ trong nước. Dù Nguyễn Hồng-Anh không nhận mình có sứ mệnh lớn lao, chính sự hiện diện của ông đã cho thấy một điều: văn hóa hải ngoại tồn tại nhờ những cá nhân âm thầm sáng tạo như thế.
Ba CD của ông – Như Người Việt Nam, Của Hồi Môn, Hòa Bình Lừa Dối, và sau này năm 2015 Boat People Dance – là nỗ lực lưu giữ một thế giới cảm xúc của người Việt xa xứ: tình yêu, mất mát, quê hương, phản kháng và hy vọng.
Qua trường hợp Nguyễn Hồng-Anh, có thể thấy âm nhạc hải ngoại không chỉ là giải trí hay hoài niệm. Nó là nơi ký ức tập thể được cất giữ, nơi người lưu vong duy trì căn tính của mình, và nơi câu hỏi về quê hương luôn được nhắc lại.
Âm nhạc của ông không ồn ào, không chạy theo thị trường, cũng không đặt mình vào trung tâm. Nhưng chính sự lặng lẽ ấy làm nên giá trị: tiếng hát của một người đã đi xa, đã sống nhiều, và vẫn không ngừng hỏi mình còn nhớ quê hương hay không.